Chào mừng quý vị đến với Khoa CNTT Trường Cao Đẳng CN Việt Đức.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Tieu luan Triet hoc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:15' 22-04-2009
Dung lượng: 13.0 KB
Số lượt tải: 12
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:15' 22-04-2009
Dung lượng: 13.0 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
HỌ TÊN: TRẦN KIÊN
LỚP: CAO HỌC K7
Đề bài:
Vận dụng công việc hoạt động thực tiễn của đơn vị để làm sáng tỏ nội dung một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật.
BÀI LÀM
Phương pháp luận biện chứng duy vật là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa. Nó là hệ thống quan điểm, nguyên tắc chung nhát chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng những phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất; là lý luận về hệ thống phương pháp và khoa học về phương pháp. Phương pháp luận biện chứng duy vật là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới.
Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác; tránh cách xem xét phiến diện, một chiều. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối lien hệ, và phải nắm được đâu là mối lien hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vần động, phát triển của sự vật, hiện tượng; tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm của thuật ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất sự vật, hiện tượng.
Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học,cho phép tính đến mọi khả năng của sự vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối liên hệ của chúng. “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối lien hệ và “quan hệ gián tiếp “ của sự vật đó”, phải tính đến “tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật đó với những sự khác nhau”. Tuy nhiên, cũng theo V.I.Lênin, chúng ta không thể làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng không phạm sai lầm và cứng nhắc. Sở dĩ chúng ta không làm được điều đó hoàn toàn đày đủ bởi trong quá trình vận động, phát triển, sự vật, hiện tượng phải trải qua nhiều giai đoạn tồn tại phát triển khác nhau, trong mỗi giai đoạn đó không phải lúc nào sự vật, hiện tượng cũng bộc lộ tất cả các mối lien hệ bên trong và bên ngoài của nó. Hơn nữa, tất cả những mối lien ấy chỉ được biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định. Và bản than cong người, những chủ thể nhận thức với những phẩm chất và năng lực của mình luôn bị chế ước bởi những điều kiện xã hội lịc sử, do đó không thể bao quát được hết những mối lien hệ bên trong và bên ngoài của các sự vật, hiện tượng.
Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối lien hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng, trong mỗi hoàn cảnh nhất định, con người chỉ phản ánh một số mối lien hệ nào đó của sự vật, hiện tượng phù hợp với nhu cầu của mình, nên nhận thức của con người về sự vật, hiện tượng mang tính tương đối, không đầy đủ, chọn vẹn. Nắm được điều đó sẽ tránh tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng mà không bổ sung phát triển. Bởi vậy, khi xem xét toàn diện tất cả các mặt của những mối quan hệ của sự vật, hiện tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thể của các quan hệ đó. Chỉ có như vậy mới thấy được vai trò của các mặt trong từng giai đoạn cũng như của toàn bộ quá trình
LỚP: CAO HỌC K7
Đề bài:
Vận dụng công việc hoạt động thực tiễn của đơn vị để làm sáng tỏ nội dung một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật.
BÀI LÀM
Phương pháp luận biện chứng duy vật là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa. Nó là hệ thống quan điểm, nguyên tắc chung nhát chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng những phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất; là lý luận về hệ thống phương pháp và khoa học về phương pháp. Phương pháp luận biện chứng duy vật là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới.
Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác; tránh cách xem xét phiến diện, một chiều. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối lien hệ, và phải nắm được đâu là mối lien hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vần động, phát triển của sự vật, hiện tượng; tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm của thuật ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất sự vật, hiện tượng.
Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học,cho phép tính đến mọi khả năng của sự vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùng các mối liên hệ của chúng. “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối lien hệ và “quan hệ gián tiếp “ của sự vật đó”, phải tính đến “tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật đó với những sự khác nhau”. Tuy nhiên, cũng theo V.I.Lênin, chúng ta không thể làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng không phạm sai lầm và cứng nhắc. Sở dĩ chúng ta không làm được điều đó hoàn toàn đày đủ bởi trong quá trình vận động, phát triển, sự vật, hiện tượng phải trải qua nhiều giai đoạn tồn tại phát triển khác nhau, trong mỗi giai đoạn đó không phải lúc nào sự vật, hiện tượng cũng bộc lộ tất cả các mối lien hệ bên trong và bên ngoài của nó. Hơn nữa, tất cả những mối lien ấy chỉ được biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định. Và bản than cong người, những chủ thể nhận thức với những phẩm chất và năng lực của mình luôn bị chế ước bởi những điều kiện xã hội lịc sử, do đó không thể bao quát được hết những mối lien hệ bên trong và bên ngoài của các sự vật, hiện tượng.
Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối lien hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng, trong mỗi hoàn cảnh nhất định, con người chỉ phản ánh một số mối lien hệ nào đó của sự vật, hiện tượng phù hợp với nhu cầu của mình, nên nhận thức của con người về sự vật, hiện tượng mang tính tương đối, không đầy đủ, chọn vẹn. Nắm được điều đó sẽ tránh tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng mà không bổ sung phát triển. Bởi vậy, khi xem xét toàn diện tất cả các mặt của những mối quan hệ của sự vật, hiện tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thể của các quan hệ đó. Chỉ có như vậy mới thấy được vai trò của các mặt trong từng giai đoạn cũng như của toàn bộ quá trình
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất